Hiển thị các bài đăng có nhãn Cơ điện tử Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cơ điện tử Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2009

Cơ điện tử, công nghệ cần ưu tiên trong phát triển KH&CN ở nước ta

0 nhận xét
Cơ điện tử (Mechatronics) là một thuật ngữ chỉ cách tiếp cận đa ngành trong kỹ thuật, có sự tăng trưởng rất nhanh trong nghiên cứu KH&CN, mang lại sự hấp dẫn lớn không chỉ cho các nhà nghiên cứu, các trường đại học, cơ quan nghiên cứu mà còn cả đối với các nhà doanh nghiệp và kỹ sư trong các ngành công nghiệp, đã được coi là một trong những công nghệ chủ đạo trong thế kỷ XXI. Để hiểu rõ thêm về vấn đề này, mới đây, GS-TSKH Nguyễn Khoa Sơn, Phó Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã dành cho báo Khoa học & Phát triển một cuộc trao đổi đầy bổ ích.

Chiến lược phát triển KH&CN nước ta đến năm 2010 đã xác định Cơ điện tử là một trong những lĩnh vực công nghệ ưu tiên cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá(CNHHĐH) đất nước, vậy nên hiểu vấn đề này như thế nào? Thưa Giáo sư !

GS Nguyễn Khoa Sơn (GSNKS): Ngày nay, do ảnh hưởng ngày càng tăng của công nghệ thông tin(CNTT) và kỹ thuật điện tử tiên tiến, các phương tiện cổ điển và cách tiếp cận công nghệ truyền thống không còn đáp ứng được thực tiễn phát triển. Nhiều vấn đề mới nảy sinh, đòi hỏi phải giải quyết mang tính liên ngành; những rào cản giữa các ngành kỹ thuật có thể xoá bỏ được khi các quy luật mới hình thành. Trong hoàn cảnh đó, Cơ điện tử-một lĩnh vực công nghệ liên ngành- đã làm tốt vai trò này.

Cơ điện tử là sự liên kết những yếu tố cấu thành của các ngành cơ học, điện tử và điều khiển học nhằm tạo nên một công nghệ mới; trong đó, có sự biến đổi về chất tư duy công nghiệp và quan trọng là tư duy công nghệ. Bằng tư duy mới và sự phối hợp liên ngành, việc đổi mới phương pháp giải quyết nhiều vấn đề kỹ thuật tổng hợp đã tạo được những đột phá, làm cơ sở cho sự ra đời những sản phẩm tiên tiến, phục vụ hiệu quả cho nền công nghiệp hiện đại.

Cơ điện tử là một thể thống nhất hữu cơ các yếu tố cấu thành, nó không phải là sự tập hợp đơn thuần những công nghệ khác nhau như cơ khí, điện tử, cảm biến, máy tính.... Chính vì vậy, cấu trúc của các công nghệ hợp thành đã có sự thay đổi để tạo thành một thể thống nhất trong sản phẩm. Công nghệ cơ điện tử cho phép phát triển những sản phẩm có tính năng mới, nhằm bù trừ hoặc loại bỏ những hạn chế trong thiết kế và chế tạo sản phẩm truyền thống đồng thời mang lại giải pháp tiến bộ cho quá trình công nghệ. Các sản phẩm cơ điện tử có hàm lượng thông minh cao tạo được những tính năng cần thiết trong các lĩnh vực sản xuất robot; hệ thống sản xuất linh hoạt, sản xuất tích hợp; năng lượng mới; giao thông, hàng không vũ trụ; thiết bị y tế và các mặt hàng dân dụng... được xem là nhu cầu tất yếu trong đời sống con người. Công nghệ cơ điện tử là một công nghệ triển vọng của thế kỷ XXI, là một hướng ưu tiên cơ bản của phát triển ngành cơ học trong sự nghiệp CNH-HĐH nước nhà..

Xin Giáo sư cho biết thực trạng và triển vọng phát triển của ngành cơ điện tử ở nước ta.

GSNKS: Việc nghiên cứu Cơ điện tử ở Việt Nam mới được bắt đầu từ những năm 90. Tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã có nhiều đơn vị nghiên cứu và ứng dụng các lĩnh vực liên quan đến Cơ điện tử, đặc biệt trong các phòng thí nghiệm của Viện Cơ học, Viện Công nghệ thông tin, Viện Vật lý - điện tử,... Năm 1998, phòng Cơ điện tử đã được thành lập tại Viện Cơ học. Ngoài ra, một số Viện và Trung tâm nghiên cứu nhà nứơc thuộc nhiều ngành kinh tế kỹ thuật và an ninh, quốc phòng đã tổ chức phối hợp nghiên cứu có kết quả nhiều nội dung trong lĩnh vực này.

Về lĩnh vực đào tạo, năm 1997, trường ĐH Bách khoa Tp Hồ Chí Minh đã mở chuyên ngành đào tạo Cơ điện tử; tiếp đó, các trường ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Đà Nẵng, ĐH Công nghệ thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, ĐH Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên, ĐH Cần Thơ,... cũng đã lần lượt mở ra chuyên ngành đào tạo công nghệ này.

Trên con đường hội nhập, với sự gia tăng đầu tư nước ngoài và tăng cường năng lực chế tạo của các doanh nghiệp trong nước, nhiều thiết bị cơ điện tử như robot, máy công cụ CNC, máy cắt Laser điều khiển số, máy in, máy ảnh....đã được sản xuất tại các nhà máy chế tạo ở Tp Hải Phòng, khu công nghệ Thăng Long (Hà Nội), khu Công nghệ cao Tp Hồ Chí Minh......,phần trí tuệ trong những sản phẩm sản xuất tại VN có xu thế ngày càng gia tăng. Nếu 15 năm trước, tỷ lệ phần cơ khí/phần cứng/phần mềm phổ biến là 60/25/15 thì đến năm 1998 đã lên 30/15/55 và hiện nay đẫ cao hơn.

Với khả năng nhạy bén của các nhà nghiên cứu và sản xuất ở VN, các giải pháp sáng tạo trong thiết kế, tích hợp tổng thể liên ngành, phương pháp điều khiển và công nghệ lập trình ngày càng mở rộng, tạo nhiều thuận lợi để gắn bó hữu cơ phần trí tuệ với phần cứng của máy móc và mở ra những cơ hội để đi tắt đón đầu trong nghiên cứu chế tạo những sản phẩm cơ điện tử có sức cạnh tranh cao trong khu vực.

Để phát huy trí tuệ VN trong cạnh tranh hội nhập, xin GS cho biết những gì là thuận lợi có thể phát huy và những cản trở cần tháo gỡ trong phát triển ngành cơ điện tử VN?

GSNKS: Thế mạnh tạo ra những sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao trong quá trình hội nhập quốc tế theo tôi có thể là:

Khả năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ KH&CN, đặc biệt là trong sử dụng và phát triển các phần mềm ứng dụng trong thiết kế và chế tạo, đây là nhân tố rất quan trọng để phát triển “trí tuệ” trong các sản phẩm cơ điện tử

Các nhà nghiên cứu và sản xuất sản phẩm cơ điện tử nước ta tiếp cận được nhanh với công nghệ cơ điện tử do đầu tư công nghệ nước ngoài đem lại. Việt Nam có thể bỏ qua giai đoạn đầu tư tốn kém trong nghiên cứu phát triển và xây dựng một số lĩnh vực công nghiệp cơ điện tử như gia công, chế tạo với độ chính xác rất cao một số lượng nhỏ chi tiết máy, linh kiện điện tử....để đi thẳng vào những sản phẩm công nghệ cao nhằm tạo ra sản phẩm mới. Song vấn đề là cần có chiến lược tổng thể để tập trung vào những lựa chọn thích hợp.

Mặt yếu trong phát triển Cơ điện tử ở nước ta là nhiều doanh nghiệp còn nhỏ, chưa có khả năng thiết kế, chế tạo tổng hợp để đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thị trường trong thời gian ngắn. Số đông doanh nghiệp nước ta còn sản xuất sản phẩm giản đơn; nếu các sản phẩm mang tính cơ khí đơn thuần thì khó có khả năng cạnh tranh. Sử dụng công nghệ cơ điện tử để chế tạo thiết bị thông minh là giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng máy móc và khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp. Để tự chế tạo những phần cứng trong thiết bị thông minh như cơ cấu chấp hành, sensor.... đòi hỏi phải có nhiều thời gian để nghiên cứu, thử nghiệm. Trong điều kiện thị trường thế giới mở rộng, những linh kiện này đã được chuẩn hoá và chào bán rộng rãi. Do vậy, nước ta có thể khắc phục hạn chế này bằng cách nhập linh kiện chọn lọc, để tập trung nguồn lực vào nghiên cứu những phần cứng đặc thù (phi tiêu chuẩn) và phần mềm trí tuệ một số sản phẩm trọng điểm có khả năng và thế mạnh cạnh tranh tại thị trường trong nước và khu vực.

Để phát triển ngành Cơ điện tử, theo GS, Nhà nước ta cần có cơ chế và những đổi mới chính sách như thế nào?

GSNKS: Tôi cho rằng, trước hết cần tập trung vào việc đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ KH&CN cơ điện tử đồng bộ về trình độ từ trên đại học đến đại học, cao đẳng và công nhân lành nghề. Đồng thời với đào tạo chính quy, có cơ chế khuyến khích việc phối hợp giữa các ngành với công ty, doanh nghiệp và người lao động để đào tạo tại chỗ và đào tạo theo mạng lưới.

Coi trọng hơn nữa nhiệm vụ nghiên cứu, đưa công nghệ cơ điện tử vào các chương trình trọng điểm quốc gia, đổi mới phương thức tổ chức xây dựng và thực hiện nội dung nghiên cứu nhằm lựa chọn và tạo được những sản phẩm nghiên cứu tương xứng với tầm cỡ của ngành. Hiện nay, việc xây dựng nội dung nghiên cứu phổ biến do các nhà khoa học đề xuất, tự tổ chức thực hiện và được đánh giá qua hội đồng khoa học của ngành, đã dẫn đến tình trạng nể nang, sợ rủi ro, mạo hiểm; sợ trách nhiệm cả trong xét duyệt, cấp kinh phí. Do vậy, việc đổi mới cần được quán triệt và xây dựng trên nguyên tắc của cơ chế thị trường, từ sự phù hợp với nhu cầu để xem xét, đánh giá.

Phát triển nghiên cứu triển khai theo hướng này, Nhà nước nên thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm về KH&CN để hỗ trợ phát triển sản phẩm mới, tạo ra những sản phẩm Công nghệ cao và khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào nghiên cứu phát triển những sản phẩm cơ điện tử . Có thể quy định việc khấu trừ thuế phải nộp tương ứng với khoản đầu tư hoặc chi phí doanh nghiệp bỏ ra để thay đổi thiết bị, tạo ra công nghệ mới nhằm mở rộng thị trường cho các nhà khoa học đưa tiến bộ công nghệ vào sản xuất và tăng thêm nguồn vốn cho các doanh nghiệp đầu tư thực hiện nhiệm vụ R&D.

Để thúc đẩy nhanh việc đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, cần chuyển mạnh cơ chế quản lý mang tính hành chính trong các cơ quan nghiên cứu nhà nước sang cơ chế tự chủ trong các hoạt động KH&CN, thành lập các doanh nghiệp khoa học trên cơ sở các tổ chức nghiên cứu ứng dụng, tạo mối liên kết chặt chẽ giữa tổ chức nghiên cứu và sản xuất kinh doanh thông qua các công ty cổ phần trong nghiên cứu ứng dụng. Đi theo hướng này, cần có cơ chế để các nhà khoa học có ý tưởng hoặc tổ chức nghiên cứu có những dự án khả thi được vay vốn thực hiện, để biến ý tưởng nghiên cứu thành sản phẩm chế thử hoặc dự án khả thi có khả năng ứng dụng vào thực tiễn.

Sau cùng, cần xúc tiến thành lập Hội Cơ điện tử VN nhằm tập hợp đội ngũ các nhà hoạch định chính sách KH&CN, kinh tế- tài chính; cán bộ nghiên cứu, đào tạo; các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh; khách hàng và những chuyên gia quốc tế để phối hợp trong các hoạt động có liên quan; tư vấn và xây dựng chiến lược phát triển các sản phẩm cơ điẹn tử theo tiêu chí cạnh tranh thị trường và nâng cao mức sống của người dân.

Xin giáo sư cho biết về sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Cơ điện tử ở Việt Nam.

GS. NKS: Trong những năm gần đây, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng như các đơn vị, tổ chức khác đã tiến hành nhiều hoạt động hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, ứng dụng và phát triển Cơ điện tử.

Trong các năm 1998, 2000, 2002, hàng năm tổ chức các hội thảo và trường hè quốc tế về Cơ điện tử giữa Mỹ – Nhật – Việt Nam lần lượt tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng nhằm tăng cường sự trao đổi, hợp tác trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu Cơ điện tử.

Đặc biệt là từ 8 đến 12 /11/2004 tại Hà Nội, Khu Công nghệ cao Hoà Lạc và Hạ Long, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã đứng ra đăng cai Hội nghị quốc tế lần thứ 8 về Công nghệ Cơ điện tử. Đây là một hội nghị thường niên, lớn trên thế giới, qui tụ nhiều các nhà nghiên cứu, doanh nhân lớn trong lĩnh vực Cơ điện tử. Hội nghị lần này sẽ đón khoảng 80 đại biểu quốc tế đến từ 14 nước trên toàn thế giới cùng khoảng 100 đại biểu Việt Nam với khoảng 100 bài báo trình bày trong 7 chuyên đề về Cơ điện tử. Trong và bên lề hội nghị, các chuyên gia sẽ cùng nhau thảo luận về các vấn đề thời sự trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Cơ điện tử trên thế giới cũng như những định hướng phát triển Cơ điện tử tại Việt Nam. Đó là một cơ hội rất tốt cho các đơn vị, tổ chức và doanh nghiệp Cơ điện tử Việt Nam tăng cường sự hợp tác, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm đồng thời nâng cao vị thế ngành Cơ điện tử Việt Nam trên thế giới.

Xin chân thành cảm ơn Giáo sư.

[GS.TSKH. Nguyễn Khoa Sơn, Phó chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Phó chủ tịch thường trực Hội Cơ điện tử Việt Nam]

[Theo Hội Cơ điện tử Việt Nam]

Đọc tiếp...

Phỏng vấn GS. Robert H. Bishop về lĩnh vực Cơ điện tử

0 nhận xét
Giáo sư Robert H. Bishop (Đại học Texas, Autin, Mỹ) là chủ biên của nhiều cuốn sách, giáo trình nổi tiếng như Modern Control System và đặc biệt là cuốn The Mechatronics Handbook (Sổ tay Cơ điện tử). Bên lề buổi thuyết trình tại Viện Cơ học, Đài Truyền hình Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn GS. Robert H. Bishop về vai trò và xu thế phát triển của Cơ điện tử. Nội dung cuộc phỏng vấn như sau.

Nằm trong chương trình hợp tác giáo dục khoa học giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, từ ngày 9-12/8, các nhà khoa học Hoa Kỳ đã sang Việt Nam để phỏng vấn các thí sinh du học theo chương trình học bổng VEF (Vietnam Education Foundation). Vào ngày 10/08/2004, Giáo sư Robert H.Bishop thuộc trường Đại học Texas, Austin đã có buổi thuyết trình tại Viện Cơ học về “Event Detectection and Identification during Autonomous Interplanetary Navigation”. GS. Robert H. Bishop là một trong những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Cơ điện tử. Là Chủ biên của nhiều cuốn sách, giáo trình nổi tiếng như Modern Control System và đặc biệt là cuốn The Mechatronics Handbook (Sổ tay Cơ điện tử). Bên lề buổi thuyết trình tại Viện Cơ học, Đài Truyền hình Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn GS. Robert H. Bishop về lĩnh vực Cơ điện tử. Nội dung cuộc phỏng vấn như sau.

Hãy cho biết ý kiến của ngài về vai trò của Cơ điện tử đối với sự phát triển của Khoa học và Công nghệ trên thế giới?

GS Robert H.Bishop: Cơ điện tử là giai đoạn phát triển tự nhiên trong quá trình tiến hoá của thiết kế kỹ thuật hiện đại. Sự phát triển của máy tính, sau đó là các vi máy tính, máy tính nhúng, cùng sự kết hợp giữa công nghệ thông tin và kỹ thuật phần mềm, đã đảm bảo cho Cơ điện tử có thể đóng vai trò trung tâm trong lĩnh vực Khoa học và Công nghệ trên thế giới. Với sự tiến bộ được mong đợi của các hệ thống cơ – điện – sinh học tích hợp, máy tính lượng tử, các hệ thống cỡ nano và pico, và những phát kiến bất ngờ khác, tương lai của Cơ điện tử đầy ắp triển vọng sáng sủa và tiềm năng. Sự tác động của Cơ điện tử tới Khoa học và Công nghệ sẽ là rất lớn.

Xin ngài hãy cho biết quan điểm của mình về sự phát triển của Cơ điện tử trong thời gian tới?

GS Robert H.Bishop: Số lượng các sản phẩm mới được tạo ra trong vùng giao giữa các kỹ thuật truyền thống, khoa học máy tính, khoa học tự nhiên đang tăng lên. Sự phát triển gần đây trong các lĩnh vực truyền thống này tạo ra cho thiết kế Cơ điện tử một bước tiến mới. Cuộc cách mạng công nghệ thông tin, những tiến bộ trong truyền thông không dây, thiết kế sensor thông minh (nhờ công nghệ MEMS), và kỹ thuật hệ thống nhúng sẽ thúc đẩy tốc độ phát triển sản phẩm thông minh. Internet (khi được sử dụng cùng với công nghệ không dây) cũng là một công nghệ có thể dẫn tới các sản phẩm Cơ điện tử mới. Một số lĩnh vực khác được lợi từ sự tiến bộ của Cơ điện tử như kỹ thuật robot, ngành chế tạo, công nghệ vũ trụ và phương tiện giao thông. Tương lai của Cơ điện tử đang rộng mở.

Ngài có thể đề xuất cho hướng phát triển Cơ điện tử ở Việt Nam với tư cách là một nước đang phát triển?

GS Robert H.Bishop: Nhiều sản phẩm kỹ thuật của 25 năm gần đây đã tích hợp các hệ thống cơ khí, điện tử và máy tính, đồng thời cũng được thiết kế bởi các kỹ sư mà chưa từng được đào tạo bài bản về bản chất của Cơ điện tử. Việc học tập Cơ điện tử cung cấp một kỹ thuật cho học viên nhằm mục đích hiểu và giải nghĩa được quá trình thiết kế để xác định, phân loại và tích hợp nhiều khía cạch của thiết kế sản phẩm trong một thể thống nhất. Với sự phân chia các lĩnh vực cơ khí, điện, hàng không vũ trụ, hoá học, dân dụng, kỹ thuật máy tính ngày càng trở nên không rõ ràng, tôi tin rằng Cơ điện tử có thể được phát triển như là một lĩnh vực nghiên cứu khoa học độc lập ở Việt Nam cũng như trên thế giới.

Ngài có thể cho biết ý kiến của mình về sự hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trên lĩnh vực Cơ điện tử trong trường hợp VEF (Vietnam Education Foundation) ủng hộ sự hợp tác này? Mô hình nào và những vấn đề gì chúng ta có thể tập trung cho lần hợp tác tiếp theo?

GS Robert H.Bishop: Khi các ranh giới khoa học và kỹ thuật trở nên khó xác định, nhiều sinh viên sẽ tìm sự giáo dục đa tư duy với một công cụ thiết kế mạnh. Các nhà khoa học nên đưa ra một chương trình giảng dạy về các hệ thống Cơ điện tử. Chương trình VEF thực hiện nhiệm vụ này bằng cách cung cấp cho Việt Nam các kỹ sư và nhà khoa học đã được đào tạo để có thể đóng góp vào sự phát triển chương trình giảng dạy Cơ điện tử trong các trường đại học ở Việt Nam. Kết quả thu được sẽ là cơ sở hạ tầng để Việt Nam có thể khuyến khích sự phát triển hợp lý các sản phẩm và dịch vụ làm cơ sở và thực tiễn tốt nhất cho thiết kế Cơ điện tử hiện đại.

[Theo Hội Cơ điện tử Việt Nam]

Đọc tiếp...

Một vài phân tích, đánh giá về phát triển Cơ điện tử tại Việt Nam

0 nhận xét
Cơ điện tử là một lĩnh vực công nghệ cao kết nối đa ngành kỹ thuật. Sự phát triển Cơ điện tử là xu hướng tất yếu của quá trình tiến lên Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước. Bài viết đưa ra một số phân tích, đánh giá về tình hình phát triển Cơ điện tử ở Việt Nam của TS. Phạm Anh Tuấn Phó Viện trưởng Viện Công nghệ vũ trụ.

1. Nghiên cứu & Phát triển & Đào tạo

Năm 1992, Viện trưởng Viện Cơ điện tử (CHLB Đức) đã giới thiệu Cơ điện tử và đánh dấu sự khởi động nghiên cứu & phát triển tại Việt Nam những năm sau đó.

1.1. Tiềm lực Khoa học và Công nghệ hiện có

Các đơn vị nghiên cứu & phát triển Cơ điện tử hiện nay:

- Năm 1998, Viện Cơ học thuộc Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam thành lập phòng Cơ điện tử tập trung trong nghiên cứu:

  • Mô phỏng và thiết kế các hệ Cơ điện tử như động cơ, robot song song, máy phát điện năng lượng gió, robot công nghiệp...
  • Nghiên cứu về robot song song, điều khiển robot và thiết bị thông minh
  • Năng lượng sạch

- Trung tâm tự động hóa - Viện Công nghệ thông tin: có kinh nghiệm trong việc điều khiển Robot và các thiết bị thông minh.

- Trung tâm Khoa học & Công nghệ quân sự: nghiên cứu và chế tạo các sản phẩm Cơ điện tử như: con quay vi cơ, MEMS...

- Học viện kỹ thuật quân sự:

  • Mô phỏng và thiết kế các sản phẩm Cơ điện tử ứng dụng trong quân sự
  • Nghiên cứu phát triển robot

- ĐH Bách khoa Hà nội:

  • Nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực CAD/CAM-CNC với các phòng thí nghiệm Cơ điện tử, phòng thí nghiệm CIM, phòng thí nghiệm CNC trong khoa Cơ khí
  • Nghiên cứu về Robot tại Phòng thí nghiệm trọng điểm về tự động hóa, Trung tâm kỹ thuật tự động hóa.
  • Đưa alaska vào mô phòng máy móc, thiết bị và ô tô
  • Nghiên cứu về MEMS ở Viện Vật lý kỹ thuật
  • Điều khiển mờ, điều khiển động cơ... trong khoa Điện

- ĐH Bách khoa TP Hồ Chí Minh:

  • Nghiên cứu thiết kế và chế tạo robot công nghiệp.
  • Nghiên cứu trong lĩnh vực máy công cụ CNC

- Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp (IMI):

  • Chế tạo máy CNC, trạm gia công tự động
  • Nghiên cứu trong lĩnh vực khuôn mẫu

Hiện nay một số Trường ĐH tại Việt Nam đã Đào tạo chuyên ngành Cơ điện tử hệ Đại học và Cao học:

- Từ năm 1997 ĐHBK TP Hồ Chí Minh mở Chuyên ngành Cơ điện tử tại khoa Cơ khí với số lượng đào tạo hàng năm là:

  • Năm 1997: 51 Sinh viên.
  • Năm 1998: 70 Sinh viên.
  • Năm 1999, 2000, 2001, 2002 và 2003 là: 100 Sinh viên/ năm.
  • Bắt đầu từ năm 2003 đã bắt đầu đào tạo Cao học chuyên ngành Cơ điện tử.

- Từ năm 1999 ĐHBK Hà nội mở lớp Kỹ sư tài năng chuyên ngành Cơ điện tử với số lượng đào tạo hàng năm là khoảng 15 - 20 Kỹ sư tài năng. ĐHBK Hà nội cũng đã hợp tác với ĐH Tổng hợp kỹ thuật Hannover (CHLB Đức) và ĐH Tổng hợp kỹ thuật Dresden (CHLB Đức) mở lớp Cao học quốc tế chuyên ngành Cơ điện tử. Từ năm 2003, khoa Cơ khí mở 4 lớp Cơ điện tử với số lượng khoảng 80-100 sinh viên/năm.

- Từ năm 2001 ĐHBK Đà nẵng mở Chuyên ngành Cơ điện tử tại khoa Cơ khí.

- Bắt đầu từ năm 2004, ĐH Công nghệ thuộc ĐH Quốc gia Hà nội mở Chuyên ngành Cơ điện tử tại Khoa Cơ kỹ thuật với số lượng ban đầu khoảng 20 Sinh viên/năm.

Ngoài ra các trường sau cũng đã mở chuyên ngành Cơ điện tử đào tạo ĐH và Cao học:

- Viện Cụng nghệ Châu Á (AIT) tại Hà nội

- ĐH Sư phạm kỹ thuật TP Hồ Chí Minh

- ĐH Cần thơ

- Và một số trường ĐH Dân lập Phương Đông, DL Thăng Long vv...

Hiện nay chỉ có ĐHBK TP Hồ Chí Minh là có Bộ môn Cơ điện tử, còn ở các Trường khác hiện nay việc đào tạo Kỹ sư Cơ điện tử chủ yếu là sự kết hợp của các chuyên ngành khác nên thường thiếu sự đồng bộ và định hướng cụ thể trong chương trình đào tạo. Do đó việc việc xây dựng Bộ môn Cơ điện tử tại các trường ĐH Kỹ thuật phục vụ đào tạo Kỹ sư chuyên ngành Cơ điện tử là rất cần thiết

Đánh giá về nghiên cứu và đào tạo của Cơ điện tử tại Việt Nam ta thấy đã có sự bắt đầu, nhưng việc phối hợp giữa các trung tâm nghiên cứu và đào tạo còn thiếu chặt chẽ, đồng bộ nên chưa đưa ra được sản phẩm Cơ điện tử tiêu biểu.

Nhằm thúc đẩy việc liên kết giữa các đơn vị nghiên cứu và đào tạo Cơ điện tử tại Việt Nam, cũng như trao đổi đưa ra định hướng phát triển lâu dài trong thời gian qua một loạt Hội nghị chuyên ngành Cơ điện tử đã được tổ chức:

- Hội thảo toàn quốc lần thứ nhất về Cơ điện tử đã được tổ chức vào ngày 20 tháng 9 năm 2002 tại khu Công nghệ cao Hòa Lạc.

- Ngày 14/5/2004 Hội thảo toàn quốc lần thứ hai về Cơ điện tử đã được tổ chức tại TP Hồ Chí Minh.

- Năm 2006, Hội nghị toàn quốc lần thứ 3 về Cơ điện tử sẽ được tổ chức tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

Ngoài ra còn có một số hoạt động hợp tác quốc tế:

- Tổ chức được các trường hè về Cơ điện tử với sự hợp tác của Nhật-Mỹ-Việt Nam.

  • Năm 1998 tại Hà nội
  • Năm 2000 tại TP. Hồ Chí Minh
  • Năm 2002 tại Đà Nẵng.

- Từ 8-12/11/2004 sẽ tiến hành tổ chức Hội nghị Quốc tế lần thứ 8 về Công nghệ Cơ điện tử tại Hà Nội. Đây là cơ hội tốt mang lại những hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Cơ điện tử và đưa Cơ điện tử ở Việt Nam lên một tầm cao mới.

Một Ban liên lạc về Cơ điện tử Việt Nam cũng đã được thành lập và đã có trang Web của Ban liên lạc là www.mechatronics.org.vn

1.2. Kết quả các đề tài, dự án nghiên cứu

Hiện nay các đề tài nghiên cứu KHCN cấp Nhà nước liên quan đến Cơ điện tử phải thông qua các Chương trình nghiên cứu của Nhà nước ở các lĩnh vực khác như:

- Tự động hóa: KC 03

- Cơ khí và Chế tạo máy: KC 05

- Các sản phẩm thay thế nhập khẩu: KC 06

Một số đề tài Nhà nước liên quan đến Cơ điện tử đã và đang thực hiện là:

- Nghiên cứu kỹ thuật robot, đặc biệt là nghiên cứu chế tạo robot phục vụ cho các quá trình sản xuất trong điều kiện độc hại và không an toàn, cũng như nghiên cứu robot thông minh (Chương trình KC 03)

- Phát triển máy CNC (Chương trình KC 05)

- Thiết kế và Chế tạo Thiết bị tạo mẫu nhanh (Chương trình KC 05)

- Thiết kế và Chế tạo Trạm phát điện bằng năng lượng gió công suất 30 kW (Chương trình KC 06).

- Bộ điều khiển CNC thông minh (Chương trình KC 05).

Bên cạnh các đề tài Nhà nước, các đơn vị nghiên cứu thực hiện các đề tài cấp Bộ như:

- Thiết kế và Chế tạo Robot song song phục vụ gia công Cơ khí (Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam)

- Robot gắp sản phẩm cho khuôn ép, Hexapod (Đại học Bách khoa TP.Hồ Chí Minh).

- Lĩnh vực nghiên cứu về kỹ thuật số, ứng dụng công nghệ thông tin trong các kỹ thuật trợ giúp của máy tính cho các quá trình thiết kế và chế tạo (CAD/CAM-Technics) được thực hiện tại ĐHBK Hà Nội và một số Viện nghiên cứu về máy.

Chính vì không có Chương trình nghiên cứu độc lập và các đề tài liên quan đến Cơ điện tử thực hiện thông qua các Chương trình nghiên cứu khác, nên các Đề tài này còn rời rạc, thiếu sự gắn kết giữa các đề tài, thiếu đầu tư chiều sâu. Do đó kết quả thu được là chưa có sản phẩm Cơ điện tử nào thành sản phẩm có thể thương mại hóa và cạnh tranh với hàng nhập ngoại.

1.3. Tác động của các chính sách nhà nước tới nghiên cứu, phát triển và đào tạo

Nghiên cứu và phát triển liên quan đến Cơ điện tử hiện nay mang tính tự phát theo khả năng sẵn có của từng đơn vị. Các đề tài đã và đang thực hiện chưa có mục đích chung là phát triển sản phẩm Cơ điện tử đặc trưng của Việt Nam có trình độ công nghệ ngang tầm trong khu vực.

Những năm gần đây Bộ GD-ĐT đã đồng ý đào tạo chuyên ngành Cơ điện tử, nhưng trên thực tế ngành Cơ điện tử chưa có chương trình chuẩn thống nhất trong đào tạo Đại học, Cao học. Việc đào tạo Cao học và Tiến sỹ Cơ điện tử hiện nay chủ yếu dựa vào hợp tác quốc tế hoặc cơ sở quốc tế đào tạo tại Việt Nam (AIT).

2. Ứng dụng Cơ điện tử

TP. Hồ Chí Minh đã chọn hướng ứng dụng Cơ điện tử cho các ngành công nghiệp sản xuất nhựa khuôn mẫu, công nghiệp dệt may. Đã hình thành một số nhóm nghiên cứu và sản phẩm cụ thể là Robot, Hexapod, máy dệt CNC, máy thêu CNC...

Hà Nội:

  • Viện Máy và dụng cụ công nghiệp đã sản xuất máy CNC, trung tâm sản xuất tự động;
  • Trung tâm Khoa học kỹ thuật và Công nghệ quân sự: hệ thống vũ khí thông minh, cảm biến MEMS, NEMS,...

Việc ứng dụng Cơ điện tử ở nước ta còn có những thuận lợi và khó khăn sau:

Thuận lợi

- Khả năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ KHCN Việt Nam, đặc biệt là trong việc sử dụng và phát triển các phần mềm ứng dụng trong thiết kế và chế tạo. Điều này rất quan trọng trong việc phát triển "trí tuệ" của các sản phẩm Cơ điện tử.

- Việt Nam được tiếp cận nhanh với công nghệ Cơ điện tử do sự đầu tư của nước ngoài ở Việt Nam như nhà máy chế tạo Robot tại Hải Phòng do Nhật đầu tư, các nhà máy công nghệ cao ở khu công nghiệp Thăng Long, ...

- Việt Nam có thể bỏ qua một số giai đoạn phát triển công nghiệp, đặc biệt là Cơ khí và đi thẳng vào ứng dụng công nghệ cao tạo ra các sản phẩm mới.

Khó khăn

- Các doanh nghiệp còn rất mơ hồ với các sản phẩm Cơ điện tử,

- Lực lượng KHCN có kiến thức về công nghệ Cơ điện tử còn mỏng, các cán bộ nghiên cứu về Cơ điện tử chủ yếu được đào tạo chuyên sâu ở các chuyên ngành như: Cơ học, Điện tử, Điều khiển, Công nghệ thông tin....nên thiếu khả năng tổng hợp, phát triển các sản phẩm liên ngành như Cơ điện tử.

- Đội ngũ kỹ sư Cơ điện tử ở các doanh nghiệp hầu như chưa có.

- Khả năng chế tạo Cơ khí chính xác của Việt Nam còn rất yếu kém.

3. Công nghiệp Cơ điện tử

Khu Công nghiệp tập trung liên quan đến Cơ điện tử:

- Khu công nghiệp Việt Nam-Singapore: thiết bị máy tính

- Khu công nghiêp Tân Thuận (TP Hồ Chí Minh): bao gói-kiểm tra chíp vi mạch

- Khu công nghệ cao TP Hồ Chí Minh, các công ty sau đã lập kế hoạch đầu tư:

  • Công ty HP: chuyên sản xuất máy, thiết bị văn phòng (máy in, máy photocopy…), các cơ cấu Cơ điện tử như ống toner, chi tiết chính xác…
  • Công ty Applied Technologies: chuyên cung cấp các linh kiện chính xác cho ngành Cơ điện tử, các phụ tùng trong công nghiệp ô tô.
  • Công ty Festo: chuyên về các bộ điều khiển, cơ cấu khí nén chính xác cho các máy công cụ hiện đại, các dây chuyền tự động…
  • Các công ty trong nước như Cơ khí Việt Pháp, An Khang có các sản phẩm máy CNC tự chế tạo…

- Khu Công nghiệp Bắc Thăng Long (Hà nội): Máy in, máy ảnh Canon, HP.

- Khu Nomura (Hải Phòng): các nhà máy sản xuất-lắp ráp Robot.

Đa số các doanh nghiệp liên quan đến Cơ điện tử là công ty liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài mà các sản phẩm Cơ điện tử lại chủ yếu là lắp ráp và phục vụ cho xuất khẩu. Việc tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất ít hoặc chưa được quan tâm đúng mức. Chưa xây dựng được ngành công nghiệp đủ mạnh, có thể hỗ trợ (supporting industry) để sản xuất các linh kiện cơ bản cho các máy móc thiết bị. Chưa có định hướng sản phẩm chiến lược của ngành Cơ điện tử Việt Nam.

[TS. Phạm Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Công nghệ vũ trụ, Tổng thư ký Hội Cơ điện tử Việt Nam]

[Theo Hội Cơ điện tử Việt Nam]

Đọc tiếp...

Vấn đề phát triển lĩnh vực Cơ điện tử ở Việt Nam

0 nhận xét
Nắm bắt được các xu thế của cơ điện tử (chuyển dần từ các sản phẩm cơ điện tử cao cấp, chuyên biệt sang các sản phẩm cơ điện tử công nghiệp; chuyển dịch thay thế các chức năng, nguyên lý và thiết kế cơ khí sang các giải pháp phần mềm; chuyển dịch từ phương pháp tiếp cận trên cơ sở phối ghép hệ thống nhỏ sang phương pháp tiếp cận hệ thống lớn toàn cục; mở rộng gắn kết với các công nghệ mới khác và đi từ thế giới vĩ mô sang thế giới vi mô), với sự thay đổi nhận thức kịp thời và có các chính sách vĩ mô phù hợp, chúng ta hoàn toàn có thể phát triển ngành cơ điện tử và các sản phẩm cơ điện tử trong nước đủ sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế.

Nghiên cứu phát triển cơ điện tử của nước ta được giới chuyên gia nhận thức được tầm quan trọng, tầm chiến lược và thảo luận nhiều từ những năm 2000. Tuy nhiên trước đó đã có một số đơn vị từ sự khó khăn cạnh tranh thị trường của sản phẩm cơ khí truyền thống, đã có sự đổi mới sản phẩm theo hướng cơ điện tử. Có thể tóm tắt trình phát triển nghiên cứu cơ điện tử của nước theo những mốc quan trọng sau:

Về công tác nghiên cứu KHCN: nhiều đề tài thuộc lĩnh vực cơ điện tử đã xuất hiện trong các chương trình nghiên cứu khoa học và phát công nghệ cấp nhà nước như KC03- Chương trình KHCN về Công nghệ Tự động hoá, KC05- Chương trình KHCN về Phát triển Công nghệ chế tạo máy, trong lĩnh vực Công nghệ thông tin và truyền thông,... đã khẳng định sự xích lại gần nhau của các ngành này, đó chính là xu thế tất yếu của cơ điện tử. Tuy nhiên, chúng ta rất cần một chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp nhà nước về cơ điện tử đảm bảo lối tiếp cận tổng thể (top-down) và xuyên suốt hàng chục năm đối với lĩnh vực đa ngành này.

Trong 12 công trình, cụm công trình vinh dự được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ năm 2005 thuộc nhiều lĩnh vực, có hai công trình trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật: “Nghiên cứu, thiết kế chế tạo cụm thiết bị cơ điện tử cho công nghiệp” do Bộ Công nghiệp đề cử và “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ cơ khí tự động hoá trong công nghiệp chế biến một số nông sản, thực phẩm” thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo do Liên hiệp các hội KH&KT Việt nam đề cử, đều thuộc lĩnh vực “cơ điện tử”. Điều này thể hiện, hiện tại các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ về cơ điện tử ở Việt nam đã có ý nghĩa lớn về khoa học và thực tiễn, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao và đã trở thành một xu thế phát triển của ngành cơ khí và tự động hoá hiện đại.

Về đào tạo: tháng 1/1999 Bộ môn đầu tiên thuộc khoa cơ khí trường Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh đã được thành lập. Cũng năm này cơ điện tử được đào tạo cho lớp kỹ sư tài năng của Đại học Bách khoa Hà nội. Đại học Bách Khoa Hà Nội cũng đã kết hợp với TU Dresden và TU Hannover (CHLB Đức) để đào tạo các khoá cao học quốc tế ngành cơ điện tử. Trong 2005 Đại học Bách khoa Hà nội mở 4 chuyên ngành cơ điện tử trong các Bộ môn khác nhau ( Bộ môn cơ kỹ thuật; Bộ môn cơ sở thiết kế máy và rôbốt & Bộ môn cơ học kết cấu và vật liệu phi kim loại; Bộ môn Công nghệ chế tạo máy & Bộ môn cắt kim loại và dụng cụ công nghiệp; lớp KS tài năng cơ điện tử) trong hệ đào tạo ngành cơ khí. Đến nay, cơ điện tử còn được giảng dạy ở Bách khoa Đà nẵng, Đại học sư phạm kỹ thuật Thủ Đức, Đại học Cần Thơ, Đại học công nghiệp Hà nội và một số trường Đại học dân lập. Đến 2006 Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh cũng sẽ được mở ngành đào tạo cơ điện tử. Đầu năm 2006, Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp và Trường Đại học công nghệ (Đại học Quốc gia Hà nội) đã ký thoả thuận phối hợp đào tạo kỹ sư cơ điện tử theo hướng gắn đào tạo với nghiên cứu và sản xuất công nghiệp công nghệ cao, một phương thức đào tạo hiệu quả, xây dựng được lực lượng KHCN trình độ cao cho công nghiệp, nhanh chóng đưa ra sản phẩm công nghệ cao phục vụ xã hội.

Về sản xuất: Trước nhu cầu ngày càng lớn và rộng rãi về sản phẩm cơ điện tử, dự tính mỗi năm trên 5 tỷ USD nhập ngoại, một số đơn vị nghiên cứu trong nước đã chủ động đưa ra thị trường những sản phẩm cơ điện tử dạng thử nghiệm như các máy CNC của Cơ khí Hà Nội, dây chuyền chế biến nông sản (ứng dụng tự động hoá) của Viện Cơ điện nông nghiệp & Công nghệ sau thu hoạch, dây chuyền sản xuất bia của Đại học Bách khoa,vv… Nhưng về mặt bài bản và qui mô, Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp - Bộ Công nghiệp có thể nói là mô hình tiêu biểu, đầy đủ và tổng hợp nhất trong cả ba lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo và sản xuất sản phẩm cơ điện tử công nghệ cao. Hơn 10 năm đổi mới, với định hướng chủ động chuyển dịch từ cơ khí thuần tuý sang cơ điện tử, Viện đã đạt được những thành công đáng khích lệ: hơn 70 sản phẩm thuộc các nhóm cơ điện tử trong lĩnh vực máy công cụ, cơ điện tử phục vụ ngành xây dựng, cơ điện tử trong lĩnh vực đo lường công nghiệp, Quang cơ điện tử phục vụ ngành chế biến nông sản, cơ điện tử phục vụ ngành xử lý và bảo vệ môi trường đã được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và chuyển giao sản xuất công nghiệp, tạo lượng hàng hoá hàng nghìn tỷ đồng, tiết kiệm nhiều ngoại tệ cho đất nước; xây dựng được mô hình công ty mẹ – công ty con, trong đó công ty mẹ là doanh nghiệp hoạt động KHCN đầu tiên tại Việt nam. Năm 2005, Viện đã vinh dự được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về KHCN cho cụm công trình 51 sản phẩm cơ điện tử trong công nghiệp.

Mục tiêu, phương hướng nghiên cứu phát triển cơ điện tử ở Việt Nam trong những năm tới.

Chưa nói đến vi cơ điện tử, nanô cơ điện tử vốn đã lôi kéo rất nhiều ngành liên quan, trong thế kỷ XXI, chúng ta sẽ chứng kiến nhiều hơn nữa sự phát triển tương hỗ rất mạnh của nhiều ngành khác xoay quanh cơ điện tử: quang-cơ điện tử (opto-mechatronics), sinh học-cơ điện tử (bio-mechatronics), khoa học không gian,... Một số ứng dụng tiêu biểu của cơ điện tử - tiêu điểm của các ngành: trong ngành hàng không - vũ trụ (quân sự và dân sự): cơ điện tử rất tự nhiên từ lâu là động lực phát triển chính. Các hệ thống lái tự động, định vị tự động, phát hiện tránh đường, điều phối không lưu,... và rất nhiều kỹ thuật, trang thiết bị mới, tinh vi đã ra đời sớm nhất trong ngành này. Tuy nhiên, do đặc thù riêng mà không được phổ biến rộng rãi trong công nghiệp nói chung. Cũng vậy, với kỹ thuật quân sự: các hệ thống vũ khí, khí tài do thám, tấn công thông minh, phòng thủ phản ứng nhanh (các hệ thống tên lửa đánh chặn, tìm diệt,...) và rất nhiều bí mật quân sự khác thực sự từ lâu đã được phát triển theo lối tiếp cận cơ điện tử hiện đại, chứ không phải đến khi nó được đề xuất và nghiên cứu sau này trong dân dụng. Trong ngành cơ khí: rôbốt, máy công cụ CNC, hệ thống đo 3D phục vụ kiểm tra chính xác cao hoặc cho thiết kế ngược,... Trong ngành tự động hoá: giám sát và điều khiển tích cực quá trình (tại từng thiết bị cho đến quy mô toàn nhà máy),... Trong ngành công nghệ thông tin: mô phỏng, mô hình hoá, cung cấp công cụ tối ưu hoá, cung cấp công cụ cho tạo mẫu nhanh, sản xuất phân tán kỹ thuật số, phần mềm điều khiển nhúng, các hệ thống giám sát và định vị toàn cầu,...Trong công nghiệp tiêu dùng: điều hoà kỹ thuật số, lò vi sóng, nồi cơm điện, máy giặt, tủ lạnh thông minh,... Trong công nghiệp ôtô: các hệ thống lái tự động, các hệ thống an toàn kiểu mới,... Trong y sinh học: thiết bị xét nghiệm, chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng, cùng với việc tích hợp các công cụ khai thác thông tin, dữ liệu di truyền sinh học để kiểm soát tổng thể các phương tiện chăm sóc sức khoẻ (ứng dụng máy ghi nhiệt và trí tuệ nhân tạo để phát hiện sớm khối u; tạo môi trường ảo để phục hồi từ xa cho người già bị giảm nhận thức; các công cụ có trợ giúp bởi máy tính để phân tích chứng bệnh tim mạch, châm cứu,...),v.v.

Có thể nhận thấy, cơ điện tử là phạm trù rộng, chúng ta cần đặt mục tiêu nghiên cứu phát triển cơ điện tử của nước ta trong những năm tới là có những sản phẩm chiến lược. Việc lựa chọn phương hướng nghiên cứu cơ điện tử cần có hiệu quả mang tính đi tắt đón đầu, do vậy có 3 lĩnh vực chúng ta cần phải làm chủ bằng được, đó là: Sản phẩm cơ điện tử trong tiêu dùng: Những đồ gia dụng ví dụ: thiết bị cảnh báo, bếp từ, đầu VCD, máy giặt, máy ảnh số,... là những mặt hàng mang tính thông minh nhưng không quá phức tạp về cấu hình. Sự thông minh nằm nhiều ở phần điều khiển (cứng và mềm của thiết bị), phần mà theo nhận định của nhiều chuyên gia là thuộc năng khiếu của người Việt Nam. Mặc dù về giá trị kinh tế không thật cao, nhưng do là vật dụng thông dụng nên lương tiêu thụ (với đất nước 83 triệu dân) là lớn. Nếu không làm chủ thị trường này, chắc chắn chúng ta sẽ bị Trung Quốc và Hàn Quốc “qua mặt”. Thiết bị và hệ thống cơ điện tử trong công nghiệp: Khá nhiều thiết bị công nghiệp ví dụ như máy công cụ CNC, trạm trộn bê tông tự động, dây chuyền sản xuất xi măng, hệ thống hút bụi công nghiệp,…. đã là kết quả nghiên cứu từ các đề tài nghiên cứu KHCN và đang được triển khai tốt trong đời sống sản xuất. Có thể nhận thấy rằng chúng ta có thể thiết kế, và tích hợp tốt thiết bị công nghiệp thông minh. Nhược điểm của chúng ta là khâu chế tạo. Tuy nhiên trên thế giới, không một nước nào, Hãng nào lại chế tạo một hệ thống từ A-Z, theo xu hướng chung này chúng ta sẽ tuyển chọn đâu là những vấn đề cần đầu tư để có thể chiếm thị phần lớn trong sản phẩm cơ điện tử loại này. Thiết bị cơ điện tử trong lĩnh vực y tế: Trong mọi xã hội giàu, nghèo sức khoẻ con người luôn được đặt lên hàng đầu vì con người là nguồn vốn quý nhất của mọi quốc gia. Việc phát triển thiết bị cơ điện tử y tế có ý nghĩa hơn khi bản thân thiết bị không những đã thúc đẩy sự phát triển của rất nhiều lĩnh vực liên quan (vật lý - nguồn năng lượng tia bức xạ, hệ thống quang học, hệ thống cảm biến –nhận dạng, công nghệ thông tin - xử lí ảnh,...) mà còn có hiệu ứng đomino đến các lĩnh vực khác như sinh hoá, chẩn đoán, trị liệu,...

Phương hướng nghiên cứu cơ điện tử của chúng ta có thể tập trung vào kỹ thuật tích hợp hệ thống từ các mô đun tiêu chuẩn hoá, đầu tư vào nghiên cứu thiết kế hệ điều khiển và phần mềm, chế tạo một phần cấu hình vật lí và phần cứng điều khiển tương thích.

Giải pháp và chính sách để có chiến lược sản phẩm cơ điện tử


Cùng bắt đầu từ một ví dụ: hãy quan sát hai quốc gia châu á cùng phát triển về CNTT. ấn Độ có rất nhiều nhân lực trong ngành CNTT, đó là lực lượng hùng mạnh được gửi đi đào tạo bài bản và làm việc tại Thung lũng Silicon (Mỹ), cũng như gia công phần mềm ngay trong nước để xuất khẩu. Hàn Quốc có số kỹ sư làm việc trong lĩnh vực CNTT ít hơn rất nhiều so với ấn Độ. Tuy nhiên doanh số và lợi nhuận đem lại từ ngành CNTT của Hàn Quốc đạt được cao hơn rất nhiều nhờ gắn liền với sản phẩm công nghệ- lượng sản phẩm cơ điện tử của họ nhiều gấp hàng chục lần, thậm chí cả trăm lần so với của ấn Độ. Phần mềm được phát triển tích hợp trong các thiết bị mang đậm màu sắc Hàn Quốc như màn hình kỹ thuật số (KTS), ti vi KTS, tủ lạnh KTS, máy giặt fuzzy logic, đa phương tiện KTS,... đã tạo ra một thị trường đem lại doanh số hàng trăm tỷ USD/năm. Phân tích như vậy để thấy gia công thuê phần mềm (theo kiểu thuần tuý outsourcing) không phải là hướng đi có lợi nhất mà phải chủ động gắn kết với các sản phẩm cơ điện tử để đạt được giá trị gia tăng cao. Như vậy, hướng tới sản phẩm cơ điện tử cần phải là sự lựa chọn ưu tiên số 1 trong việc phát triển ngành CNTT ở các nước châu á, mà bài học rõ nét nhất là các nước thành công nhanh như Hàn Quốc và gần đây là Trung Quốc.

Nhà nước cần có định hướng phát triển ngắn hạn 5 năm, dài hạn 20-30 năm, hoạch định những sản phẩm cơ điện tử chiến lược, chủ đạo phù hợp với Việt Nam và xác định lộ trình thực hiện. Để sớm rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực, các ngành công nghiệp của ta cần tiếp cận tổng thể, xây dựng hệ thống trên cơ sở tích hợp các mô đun tiêu chuẩn hoá, nâng cao tính sáng tạo trong thiết kế phần mềm, giải pháp tích hợp hệ thống, đầu tư vào phần “thông minh” của sản phẩm. Việc quy hoạch các ngành công nghiệp hỗ trợ để sản xuất phần nào các thiết bị tiêu chuẩn hoá trong nước cũng được xem là cần thiết. Nhưng giá trị gia tăng lớn nhất, độc đáo nhất và cũng bền vững nhất của sản phẩm cơ điện tử lại nằm ở công nghệ nguồn, phần chất xám gửi gắm vào trong các thiết bị điều khiển của sản phẩm - linh hồn của máy móc.

Những sản phẩm cơ điện tử chiến lược trong trung và dài hạn sẽ được định hình và đạt được thông qua một số giải pháp sau:

- Thành lập chương trình KHCN cấp nhà nước về cơ điện tử: để có tiếp cận tổng thể tầm quốc gia và xuyên suốt hàng chục năm, xây dựng các hướng phát triển ưu tiên và các nhiệm vụ cụ thể có tính kế thừa cao, đảm bảo hiệu quả và tập trung ;

- Ưu tiên phát triển những trung tâm thiết kế và thử nghiệm chip: Xây dựng những trung tâm thiết kế và thử nghiệm chip ở các tỉnh thành lớn, từng bước hình thành lực lượng khoa học trình độ cao phục vụ phát triển các sản phẩm cơ điện tử: làm chủ và sở hữu được thành phần quan trọng nhất của những thiết bị điều khiển thông minh là những chip điều khiển cho công nghiệp, chứa đựng phong cách thiết kế và sắc thái riêng mang thương hiệu của nhà sản xuất sản phẩm cơ điện tử. Việc tiếp cận với công nghệ tạo chip có thể thực hiện từ một trong hai hướng: Công nghệ chế tạo chip (chip making) bao gồm toàn bộ quá trình thiết kế và sản xuất công nghệ các loại chip với các công nghệ bán dẫn khác nhau ; Công nghệ thiết kế chip (chip design) là các công việc liên quan tới việc định hình cho các chip rỗng dưới con mắt của nhà thiết kế ứng dụng. Công nghệ chế tạo chip đầy đủ đòi hỏi một nền công nghiệp hiện đại của quốc gia với sự đầu tư lớn, còn công nghệ thiết kế chip đòi hỏi đầu tư ít hơn tập trung chủ yếu vào chuyển giao các nguồn tri thức, đào tạo nhân lực làm chủ và đón đầu công nghệ. Đầu tư vào thiết kế chip và phần mềm nhúng cho phép tiếp cận, làm chủ công nghệ nguồn cũng như chủ động giữ được bản quyền với chi phí hợp lý. Chỉ có đi theo hướng thiết kế chip mới đem lại giá trị gia tăng cao. Vì thiết kế chip được đánh giá là “high risk-high return” thay vì gia công thuê phần mềm thuần tuý (kiểu outsourcing) vẫn chỉ được xem là một ngành dịch vụ “low risk-low return”.

Việc làm chủ công nghệ thiết kế chip còn đặc biệt quan trọng trong việc chế tạo các môđun chức năng thay cho các bản mạch bằng linh kiện rời trong các trang thiết bị quân sự (vũ khí, khí tài) do sau thời gian dài sử dụng đã hỏng, không có điều kiện nhập linh kiện rời thay thế. Ngoài ra, các môđun được chế tạo mới bằng các chip do ta tự thiết kế không chỉ làm chức năng sửa chữa, thay thế, mà quan trọng hơn là nó có thể làm thay đổi tính năng của thiết bị trong việc cải tiến, gây bất ngờ cho đối phương, nâng cao hiệu quả chiến đấu.

Những luận cứ trên cho thấy sự cần thiết xây dựng các trung tâm thiết kế chip tại Việt nam. Việc đầu tư chiều sâu về khoa học công nghệ ban đầu cho các trung tâm thiết kế chíp có thể đưa tới cảm giác khó đạt hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, nếu quyết tâm đầu tư phát triển trung tâm thiết kế chip thành các cơ sở đồng bộ thiết kế và thử nghiệm chip thì theo các tính toán dự báo sẽ có quá trình hoàn vốn nhanh, hiệu quả kinh tế cao. Ngoài ra, lợi ích chính khi làm chủ công nghệ thiết kế chip là tạo ra tiềm lực khoa học công nghệ, tạo thế chủ động cho sự phát triển của cơ điện tử và các ngành hữu quan cấu thành, tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế quốc dân, đặc biệt trong an ninh, quốc phòng.

- Đào tạo nguồn nhân lực: Cơ điện tử đã được triển khai đào tạo ở một số trường Đại học kỹ thuật và đang được các trường cao đằng, dạy nghề quan tâm, mong muốn đưa vào chương trình giảng dạy. Còn sớm để có thể đánh giá chương trình đào tạo về cơ điện tử hiện hành, nhưng về vĩ mô cần có chính sách đào tạo các giáo viên chuyên ngành cơ điện tử theo quy hoạch của nhà nước. Xây dựng hệ thống đào tạo ngành cơ điện tử nhiều trình độ: dạy nghề, Đại học, sau Đại học để có đủ nhân lực phục vụ chương trình nghiên cứu phát triển, sản xuất, vận hành, hiệu chuẩn, hiệu chỉnh các thiết bị cơ điện tử từ nhiều cấp độ, theo lộ trình đi tắt đón đầu trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Để không lỡ nhịp với xu thế phát triển theo hướng cơ điện tử của các ngành KHKT và công nghệ trong thế kỷ 21, chúng ta rất cần những chương trình nghiên cứu KH&CN riêng ở quy mô quốc gia đáp ứng nhu cầu tổng thể của đất nước. Đã đến lúc phải đánh giá đúng vai trò “đòn bẩy” của các sản phẩm cơ điện tử đối với nền kinh tế đất nước; phải làm chủ lĩnh vực cơ điện tử từ nhiều góc độ: khoa học, công nghệ, kỹ thuật, giáo dục và phải đầu tư đáp ứng được các yêu cầu cho nó trong quá trình phát triển. Xác định nhóm sản phẩm cơ điện tử chủ đạo của đất nước, hoạch định các chính sách dài hạn và ngắn hạn, lộ trình thực hiện là vô cùng cần thiết. Và trong giai đoạn 5 năm tới (2006-2010) chúng ta cần sớm có chính sách phát triển cơ điện tử với trọng tâm là công nghệ thiết kế chip tại Việt nam.

[TS. Đỗ Hữu Hào, Thứ trưởng Bộ Công Thương, Chủ tịch Hội Cơ điện tử Việt Nam]

[Theo Hội Cơ điện tử Việt Nam]

Đọc tiếp...
 

Bản quyền 2009 VINABOT GROUPS. Quản lý bởi James Huynh | Xem tốt nhất với trình duyệt Firefox và độ phân giải 1024 x 768 | Power by Blogger.com